Chuyện “mả ngụy” và Hòa hợp dân tộc


Tác giả: Thanh Tung Nguyen .

 

Hòa hợp dân tộc vốn chẳng phải là đề tài mới lạ gì vì nó vốn được Đảng và nhà nước ta quan tâm bấy lâu nhưng những ngày gần đây lại được thổi bùng lên cùng với sự có mặt của ông nghị Hoàng Duy Hùng, một tay (từng?) chống cộng cực đoan, trong đoàn nghị viên Hội đồng thành phố Houston đến thăm Việt Nam theo lời mời của Thứ trưởng ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn. Có đề tài, các loại phương tiện truyền thông lề trái, lề phải và tâm lý chiến (RFA, BBC,..) vận hành hết công suất để khai thác từng ly từng tí độ “hot” của nó và vung vít đủ loại ý kiến ý cò hệt như cách mà họ soi mói một ngôi sao showbiz vậy. “Hòa hợp” hơn tý nào chưa thì không rõ mà trước mắt chỉ thấy những thông tin kiểu đó dường như có tác dụng đào sâu thêm cách biệt và làm sai lệch ý nghĩa thực sự của việc “hòa hợp dân tộc”.

 

Vấn đề hòa hợp dân tộc có từ khi nào?

 

Nhắc đến “hòa hợp dân tộc”, chắc hẳn nhiều người sẽ liên tưởng đến nghị quyết 36của Bộ Chính trị về Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài (2004). Tôi không có dữ liệu cụ thể để khẳng định chính xác rằng vấn đề này được đặt ra khi nào nhưng với truyền thống Đại đoàn kết toàn dân của Đảng CSVN từ thời kỳ đầu chống Pháp, không khó để hình dung đây là chủ trương có tính liên tục và xuyên suốt của Đảng CSVN.

 
Có một câu chuyện khi công tác ở Vĩnh Linh năm 1972, trong bữa cơm với các cán bộ địa phương, TBT Lê Duẩn đặt câu hỏi: “Sau khi Việt Nam đánh thng đế quc Mỹ, thng nht đt nưc, việc gì là ln nht?”.

 
Trả lời ông, người thì cho rằng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là hàng đầu, người thì cho rằng phải phát triển nông thôn, đưa người nông dân đi lên, người khác thì nói cần ưu tiên đẩy mạnh khai thác tài nguyên… Ông chăm chú lắng nghe mọi người nhưng không ưng ý nào cả.

 
Rồi ông hỏi từng người ngồi xung quanh mâm cơm một câu: “Có ai có bà con trong Nam không?”. Ai cũng trả lời có. Ông nói: Vấn đề lớn nhất sau chiến tranh cần phải làm, đó là hòa hợp dân tộc.

 

watermarked-Kienthuc-Vi-tuyen-17-13

 

 

Hòa hợp dân tộc là gì và tại sao phải hòa hợp?

 

Hơn 30 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã làm đất nước ta không chỉ bị chia cắt về địa lý mà còn bị chia rẽ lòng người, đặc biệt là trong 20 năm chống Mỹ. Chỉ trong thời gian ngắn ngủi từ 1955 đến 1960, núp dưới đôi cánh của “đại bàng” Mỹ, chính phủ ngụy quyền VNCH đã được đến 55 quốc gia trên thế giới công nhận, hơn hẳn VNDCCH vốn chỉ được công nhận bởi Liên Xô, Trung Quốc từ 1950 và các nước XHCN khác những năm sau đó. Thời gian 20 năm đó đủ để cho 1 – 2 thế hệ trưởng thành trong “tiếng ru hời” của hệ thống tâm lý chiến khổng lồ của Mỹ ngụy, tin rằng tổ quốc của họ là một đất nước VNCH riêng biệt, tách rời khỏi cơ thể mẹ Việt Nam thống nhất từ địa đầu Hà Giang đến mũi Cà Mau. Cũng trong khoảng thời gian đó, biết bao ân oán giữa những người con cùng một dân tộc, thậm chí cùng một gia đình, bị buộc phải cầm súng bắn vào nhau vì dã tâm của đế quốc. Sự hận thù được Mỹ ngụy tô vẽ, cài đặt vào trong tâm thức người dân một cách cực đoan đến mức lố bịch: bảy thằng Việt cộng đu cành đu đủ không gãy, Việt cộng có đuôi,… hay sặc mùi sát khí như bài thơ mà Vũ Hoàng Chương dâng lên Ngô Đình Diệm:

 
“Lò phiếu trưng cầu, một hiển linh
Đốt lò hương, gửi mộng bình sinh
Từ nay trăm họ câu an lạc
Đàn khúc đầm Dao, rượu chén Quỳnh!
Có một ngày ta trở lại cố đô
Lưỡi lê no máu rửa Tây Hồ
Trên tầng Chí Sĩ bàn tay vẫy
Đại định thăng Long, một bóng cờ”.

 
Chính nỗi niềm quỷ dữ mà đế quốc và tay sai muốn trút lên đồng bào Việt ở bên kia vĩ tuyến 17 lại trở thành sự ám ảnh đối với lính ngụy, gia đình họ và một bộ phận nhân dân miền Nam vào những ngày tháng 04 năm 1975 lịch sử. Trước khi cuốn gói theo đuôi chủ, đám chóp bu ngụy quyền còn tuyên truyền về một cuộc “tắm máu” Sài Gòn khiến cho không ít người hoảng loạn, bỏ chạy khỏi đất nước cùng nỗi kinh hoàng hơn cả việc bám dưới càng trực thăng, thậm chí có những sỹ quan đã phải bắn chết gia đình mình rồi tự sát.

Vừa giành được độc lập, đất nước ta lại bị cuốn vào 2 cuộc chiến tranh biên giới và hệ lụy kéo dài gần hai chục năm sau của nó. Song song với đó là khoảng thời gian cấm vận của Mỹ đối với Việt Nam. Hình ảnh đất nước ta đối với thế giới nói chung và cộng đồng kiều bào nói riêng quả thực rất bí ẩn, có lẽ chẳng khác gì Triều Tiên trong mắt thế giới bây giờ. Điều đó vô hình chung lại trở thành mảnh đất màu mỡ cho những kẻ chống cộng cực đoan hoặc lưu manh chính trị kiếm ăn bằng cách đưa những thông tin xuyên tạc về đất nước, đe dọa cộng đồng hải ngoại ở Mỹ và đẩy họ rời xa hơn nữa khỏi quê hương mình dù đã đi nửa vòng trái đất, đào sâu hơn nữa vực thẳm ngăn cách họ với dân tộc dù ở giữa đã là Thái Bình Dương bao la (lạ lùng là chúng càng thù cộng sản thì lại càng phải dựa vào hai từ “cộng sản” để kiếm ăn!).

 

Do đó, hòa hợp dân tộc là điều tối cần thiết để trước hết chấm dứt việc đổ thêm máu, xóa đi thù hận giữa những người cùng giòng giống, để nhân dân cả nước yên tâm chung sống và bắt tay vào xây dựng lại đất nước, để người Việt  tha hương hiểu rõ hơn về tình hình quê hương đất nước mình và an tâm tìm về quê cha đất tổ, để huy động nguồn lực của người Việt trên khắp thế giới ,.. Có thể cụm từ này chỉ được nhắc tới nhiều khi nói về chính sách của nhà nước đối với cộng đồng người Việt ở nước ngoài những năm gần đây nhưng thực tế, nó đã được thực hiện rất lâu từ trước ngày 30/04 và tiếp diễn âm thầm trong nước, dưới các hình thức khác nhau như: công tác dân vận trong vùng địch chiếm đóng, chính sách khoan hồng đối với tù binh, đoàn kết các tôn giáo, …

 
Hòa hợp dân tộc đã được thể hiện bởi tinh thần thượng võ của quân đội ta trong chiến tranh mà những thông tin mới đây về trận chiến giải phóng đảo Song Tử Tây là một ví dụ điển hình:

 

“Ngoài chiến sĩ Ngô Văn Quyền, đại đội trưởng Tống Văn Quang thuộc Tiểu đoàn 471 – Quân khu 5 đã hy sinh trong trận chiến ở Song Tử Tây và được an táng ngay trên đảo. Sáu lính Việt Nam Cộng hòa tử trận cũng được quân giải phóng mai táng cẩn thận trước sự chứng kiến của 33 tên đã đầu hàng.
“Thấy đại đội trưởng của mình bị địch bắn chết, một số chiến sĩ đòi xử tử toàn bộ đám lính Việt Nam Cộng hòa. Tuy nhiên, tôi không cho làm vậy. Họ cũng là những người Việt Nam. Ta đã giải phóng đảo, địch đã đầu hàng, chiến tranh sắp kết thúc, chúng ta cần độ lượng để máu không tiếp tục phải đổ vô ích” – ông Hồng bồi hồi.”

 

Hòa hợp dân tộc là sự khoan hồng độ lượng tưởng chừng chỉ có ở những cao tăng đắc đạo của những người Đảng viên, những người làm cách mạng đối với tội ác“trời không dung, đất không tha” của kẻ thù đối với mình mà tiêu biểu là trường hợp các cựu tù Phú Quốc đối với “đệ nhất ác nhân” Bảy Nhu, cai ngục Phú Quốc xưa kia. Có được điều đó không phải là do sự bao dung đơn thuần của con người mà phải được sự soi sáng từ lý tưởng chính nghĩa của Đảng CSVN, kết tinh từ truyền thống nhân đạo của dân tộc.

 

Hòa hợp dân tộc chính là một nhiệm vụ chính trị quan trọng của Đảng CSVN chứ không đơn thuần là việc “hàn gắn, làm lành” với một bộ phận kiều dân như nhiều người thường nghĩ. Nó là một phần không thể thiếu của Đại đoàn kết dân tộc. Và như chúng ta thấy, nhiệm vụ này đã được thực hiện rất tốt ngay từ thời ĐCSVN được thành lập tới nay: đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân, tôn giáo, dân tộc đứng lên đánh đuổi ngoại xâm dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng; xây dựng một xã hội bình yên, hòa hợp trong một đất nước đa dân tộc, đa tôn giáo,…

 

Hòa hợp dân tộc bị xuyên tạc như thế nào?

 

Khi nước ta mở cửa hòa nhập với quốc tế, đặc biệt là sau khi Mỹ bỏ cấm vận Việt Nam (1994), vấn đề người Việt Nam ở nước ngoài là một ưu tiên trong chính sách đối ngoại của nhà nước với quan điểm “cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam”Nghị quyết 36(2004) của Bộ chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài là văn kiện chính trị cao cấp hệ thống lại, phát triển và mở rộng chủ trương, chính sách của Đảng đối với người Việt ở nước ngoài. Một số chủ trương chính được nêu trong Nghị quyết 36 là: tuyên truyền cho cộng đồng Việt kiều hiểu rõ về đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước; hỗ trợ Việt kiều hồi hương, đầu tư kinh doanh tại Việt Nam; bằng quan hệ ngoại giao, vận động các chính quyền nước sở tại tạo điều kiện cho Việt kiều có điều kiện làm ăn, sinh sống bình thường,… Như vậy, nghị quyết này nhắm tới toàn bộ cộng đồng người Việt Nam đang sinh sống ở các nước trên thế giới (khoảng 2,7 triệu người năm 2004 và trên 4 triệu người hiện nay) chứ không phải chỉ dành cho “một số ít người đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc, ra sức chống phá đất nước, phá hoại mối quan hệ hợp tác giữa nước sở tại với Việt Nam”. Nghị quyết như cái dang tay rộng mở của tổ quốc chào đón mọi người con tha hương “tìm về nhà” chứ không phải để tìm cách “hòa giải” với một nhúm người ngạo ngược, chống phá tổ quốc vì lợi ích của riêng họ. Thực hiện chủ trương này, Bộ Ngoại Giao trong vai trò tiên phong đã gặt hái được không ít thành tích trong khoảng thời gian gần 10 năm vừa qua, thậm chí đã “giải bùa chống cộng” cho không ít người nằm trong “một số ít người” kia.

 

Bất chấp sự thật hiển nhiên đó, nhúm người còn lại trong “một số ít người” kia vẫn ra sức hô hào “cảnh giác” với “âm mưu của ĐCSVN” cứ như thể ĐCSVN tạo cái bẫy chính sách, lừa bà con Việt kiều về nước rồi “bắt lại mang đi làm nhân bánh bao”không bằng! Blogger Xích lô Việt đã có một bài rất chi tiết về vấn đề này: NGHỊ QUYẾT 36 – NỖI ÁM ẢNH CỦA CỜ VÀNG.

 
Một số đại diện “cấp tiến” trong cái gọi là “cộng đồng cờ vàng” kia nhận thức được sự lố bịch khi chống lại chính sách tốt đẹp của ĐCSVN nên “tự diễn biến”, mà ông Al Hoàng đã nói ở đầu bài là một ví dụ. Tuy nhiên, sự bắt tay của họ đối với nhà nước Việt Nam trong tâm thế chưa “sạch nước cản” lại tiềm ẩn nhiều âm mưu tinh vi trong việc xuyên tạc lịch sử, bẻ cong sự thật cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc, chạy tội cho kẻ xâm lược và tay sai,… với sự hô hào của các cái loa chống Cộng ngoại quốc (RFA, BBC,…), các nhà “rận chủ” và thậm chí bởi chính sự ngu ngơ của các báo chính thống trong nước!
Đó là các luận điệu như: HÒA GIẢI dân tộcsan bằng “dị biệt” giữa trong nước và hải ngoại;

Hòa giải cái gì, với ai?

 

Hòa giải theo nghĩa cơ bản là việc dàn xếp để 2 bên đang có tranh chấp chấm dứt xung đột. Hai bên này thường là ở thế giằng co nhau, đồng ý chấm dứt xung đột vì lợi ích của mỗi bên sau khi định lượng rằng sự hợp tác sẽ có lợi hơn sự xung đột.
Đã gần 40 năm kể từ ngày chấm dứt cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mỹ của dân tộc ta, hai cựu thù một thời cũng đã HÒA GIẢI được gần 20 năm nhưng vẫn còn những kẻ lải nhải về cái gọi là “Hòa giải dân tộc”. Đằng sau cụm từ có vẻ trong sáng này là cả một âm mưu hòng viết lại lịch sử, biến cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc ta thành một cuộc nội chiến Bắc – Nam, “nâng tầm” đám tay sai ngoại bang lên thành một đối trọng với phần còn lại của dân tộc,.. Trong thời đại CNTT hiện nay, khi mà tư liệu mật các bên được bạch hóa, chẳng khó khăn gì để một người bình thường có thể hiểu rõ bản chất của cuộc chiến tranh này, ngoại trừ những kẻ có khuyết tật về tâm hồn cố đánh đổi lịch sử dân tộc lấy chút lợi lộc cá nhân.

 

Sự thật được cả thế giới công nhận đó là:
- Cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc Việt Nam trong những năm 1954 – 1975 thực chất là sự tiếp nối, là “tập 2″, của cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp – Mỹ (1945 – 1954). Với đóng góp cổ phần chiếm đến gần 80% chiến phí của Pháp tại Đông Dương, Mỹ đã được tổng tư lệnh quân Pháp Navarre chua chát thừa nhận rằng: “Địa vị của chúng ta đã chuyển thành địa vị của một kẻ đánh thuê đơn thuần cho Mỹ”. Khi “thằng đệ” Pháp thất bại, Mỹ không cam tâm ký hiệp định Geneve mà quyết tự “xắn tay” vào bàn cờ Đông Dương với chủ thuyết về “thực dân mới” của mình. Đến lượt mình thất bại, Mỹ đã chường mặt ra cho cả thế giới thấy vai trò của mình trong bàn đàm phán Paris để thương thuyết với VNDCCH. Do đó, chỉ có những kẻ lòng dạ phản trắc, đen tối như Osin Huy Đức mới mặt dày mày dạn mà chia rẽ dân tộc Việt ra thành “Bên thắng cuộc” và “Bên thua cuộc” trong khi thực chất “Bên thắng cuộc” là dân tộc Việt còn “bên thua cuộc” là đế quốc Mỹ cùng tay sai.

 
- Cái gọi là Chính quyền Việt Nam cộng hòa thực chất là “bình mới” của “rượu cũ”quốc gia Việt Nam, một chính phủ bù nhìn được thành lập bởi thực dân Pháp năm 1948 như một con bài chính trị để chống lại mặt trận Việt Minh. Nhìn lại lịch sử hình thành và tồn tại của thực thể chính trị – quân sự này, chẳng ngoa khi ví von nó không khác gì cái bao cao su được Pháp sử dụng, đã thủng, rồi đế quốc Mỹ nhặt lại, thổi phồng nó lên bằng sức mạnh đô la của mình và nhanh chóng xẹp lép, bèo nhèo khi Mỹ hụt hơi.

 

Vậy thì làm sao có cái gọi là HÒA GIẢI giữa một dân tộc đã chiến thắng ngoại xâm hùng mạnh với “hồn ma bóng quế” của tên nô tài, tay sai của chính kẻ xâm lược đó? Làm sao dám lấy tư tưởng chống phá của một dúm người tha hương và gắn cho họ cái mác “hải ngoại” để đại diện cho hàng triệu người Việt ở nước ngoài?

 

Chuyện rõ như ban ngày như thế, tưởng đâu chỉ có những cái loa tâm lý chiến và đám “rận chủ” là đủ độ “mặt dày mày dạn” để khóc mướn cho cái “danh dự” của thây ma 40 năm tuổi kia nhưng thậm chí một số báo “chính thống” cũng ra rả nhai theo cái luận điệu này. Mới đây nhất là trường hợp báo Thanh niên, chộp đúng độ “hot” của sự kiện Hoàng Duy Hùng, đã đăng loạt bài phỏng vấn ông này với những luận điệu như “Để hải ngoại và trong nước san bằng dị biệt” và bị blogger Đỏ phê phán thẳng thừng “Sến ít thôi, kưng!”:

 

Cứ nhìn vào số kiều hối mà đo lòng dạ hải ngoại cho chắc.

Còn lại một nhúm cách biệt, nhúm tướng tá quan lính Ba Que hận 30/4 và con cái kế thừa nỗi hận mà nhân vật Hoàng Duy Hùng được đại diện. Nhúm này cho quá tay 10% đi, cũng chưa bao giờ và mãi mãi không bao giờ đủ số lẫn lượng tư cách đại diện cho cộng đồng hải ngoại trong vế cân bằng với 90 triệu quốc nội. Chưa thèm kể, nếu nói về F1 của họ, thì chỉ cần đem Nguyễn Cao Kỳ Duyên đối lập với Hoàng Duy Hùng thôi đủ làm bật ra vấn đề; sự khác biệt mà báo Thanh Niên đang đề cập thực chất chỉ là một nhúm cỏn con hận thù cá nhân ích kỷ đến mức thành tội ác phản bội cội nguồn của mình. Tội ác này được san lấp aka đem chôn vào quên lãng đã quý lắm rồi, có cửa đâu mà đòi san bằng. 

Thật nực cười, một ông nghị viên thành phố Mỹ, quốc tịch Mỹ, tuyên thệ trung thành với Mỹ, cả đời sống ở Mỹ lại huênh hoang “đấu tranh cho nguyên vọng của đồng bào trong nước”. Làm báo sến đến mức này thì phải nghĩ ngay đến độ IQ có vấn đề, nếu không thì cầm chắc “rận chủ”.

 

Hòa hợp dân tộc là phải nhìn nhận đúng lịch sử

Hòa hợp là sự thấu hiểu lẫn nhau để cùng chung sống hòa thuận. Thấu hiểu nhau tức là phải có cùng quan điểm, cùng thống nhất với nhau về những vấn đề chung, trên cơ sở tôn trọng sự thật. Hòa hợp không có chuyện “thỏa thuận hơn thua” như Hòa giải. Hòa hợp là một mối quan hệ mang tính tự nhiên, tự nguyện như sự hợp lưu giữa 2 con sông chứ không hề miễn cưỡng như Hòa giải.

 

Một trong những ví dụ điển hình của sự “hòa hợp dân tộc” là trường hợp nhà báo Nguyễn Phương Hùng. Từng là một cựu biệt động quân của chế độ ngụy quyền Sài Gòn, một tay chống cộng cực đoan tại hải ngoại, nhưng sau khi nhận lời mời của thứ trưởng bộ ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn trở về thăm quê hương, chứng kiến một Việt Nam không như những gì ông thường được “nhồi sọ”, ông đã “tự diễn biến”một cách rất nhanh chóng, rất tự nhiên, rất con người. Không những từ bỏ “kháng chiến chống cộng trên đường phố Mỹ”, ông Hùng còn trở thành một “đại sứ” tích cực cho sự hòa hợp bằng việc cung cấp những thông tin đúng đắn của nước nhà tới cộng đồng Việt kiều tại hải ngoại. Sự “lột xác” hoàn toàn của ông là điều tất yếu đối với những con người biết tôn trọng sự thật, hướng thiện.

 

Tất nhiên con đường đi đến “chân lý” là không hề êm đềm, nhất là đối với những người đã phải đắm chìm trong sự giả dối hàng chục năm trời. Một vấn đề được nhiều người cho rằng là trở ngại lớn đối với sự “hòa hợp” của những người từng bên kia chiến tuyến là cách gọi “ngụy quân, ngụy quyền”. Họ cho rằng những từ ngữ đó mang tính kỳ thị. Trước khi xem quan điểm đó có đúng hay không, chúng ta hãy xem câu chuyện mà blogger Lê Vũ kể lại khi đích thân đến nghĩa trang Bình An (nghĩa trang quân đội Biên Hòa cũ) để tìm hiểu sau sự kiện thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn viếng thăm nơi đây:

 

Về nghĩa trang QĐVNCH. Khi Mỹ chưa đổ quân vào VN, khu đất gò rộng 150ha là vườn rẫy của dân làng Bình Thung khai phá hơn 200 năm trước, chính quyền thời Pháp đã cấp bằng khoán, trích lục địa bộ cho chủ đất. Như thông lệ ở thôn quê VN, bà con an táng thân nhân trên đất nhà mình. Khu vực đó có vài trăm ngôi mộ dân cư nhiều thế hệ từ thuở mở cõi lập làng cho đến đầu thập niên 60. Năm 1965, quân lực VNCH đưa máy ủi tới san phẳng tất cả, từ mồ mả tới hoa màu, từ nhà cửa tới cây trái lâu năm, từ miếu mạo đầu thôn tới đình làng Bình Thắng. Kẽm gai giăng quanh khu bình địa, chính quyền VNCH gọi đó là ‘nghĩa trang quân đội’ còn dân làng thì gọi là khu mả ngụy. Phía Bắc khu mả ngụy là trại lính rộng 20ha (nay là trường dạy nghề Đồng An & trường trung học cơ sở Bình Thắng). Phía Tây là kho đạn rộng 30ha, nay là khu dân cư. 100ha còn lại chia làm 4 phân khu: Đền tử sĩ (nằm trên quả đồi rộng 6ha), Nghĩa dũng đài (2ha), khu tẩm liệm (8ha) và 5 lô chôn xác phân biệt: Sĩ quan, hạ sĩ quan + lính tẩy, TCG, các tôn giáo khác, vô danh. Sau 1975, thân nhân đến cải táng hài cốt đưa về quê. Đến 1995, chỉ còn lại 12.500 ngôi mộ, dù có chủ hay vô chủ – tất cả đều vẹn nguyên như 20 năm trước. Đạo lý dân tộc & pháp luật nước CHXHCNVN coi việc xâm phạm mồ mả là trọng tội nên việc kẻ nào lu loa ‘Việt cộng phá nghĩa trang QĐVNCH’ là hoàn toàn bố láo. Đến 1996, tỉnh Bình Dương lấy 20ha để liên doanh với Malaysia xây nhà máy nước sạch công suất 50.000 m3/ngày, trên dt 20ha đó có 147 mả ngụy, sau 3 tháng thông báo trên báo đài, có 19 thân nhân tới bốc cốt, số còn lại ch.quyền hỏa táng, tro cốt gửi chùa nhang khói. Từ 1995 đến nay, năm nào cũng có vài trăm di hài được hồi hương, nay chỉ còn thưa thớt rải rác dăm trăm mộ. Những chủ đất cũ (trước 1965) trồng cao su lên nơi đất trống (đã hốt cốt). Hỏi bác nông dân thả bò gần đó: ‘Trồng cao su lên mồ mả, ch.quyền không nói gì sao?’ – ‘Chú nói kỳ cục, ai trồng lên mồ mả hồi nào? Vô coi kỹ rồi nói nha?! Tui trồng trên đất của tổ tiên ông bà tui chứ không trồng trên đất của thằng nào hết. Tụi nó nằm chình ình ra đất tui, thay vì tui trồng 800 cây/ha mà giờ chỉ trồng được 500 cây vì vướng mả ngụy. Ụ con ĩ mẹ tụi nó. Thờ Mỹ sao không kêu thằng Mỹ đưa xác mà ODP về bển? Kẹt tụi nó nằm chiếm chỗ nên ch.quyền đâu chịu cấp sổ đỏ cho tụi tui?..’ Ông già mần 1 hơi nghe lùng bùng lỗ tai. Ai muốn biết thực hư, hãy đến tận nơi như tôi chiều hôm qua. Dân ta dùng từ tài tình thật: MẢ NGỤY! Đã là ‘mả ngụy’ thì lấy tư cách gì mà nằm chung với ‘nghĩa trang nhân dân’? Chả ai cấm cản ông Nguyễn Phương Hùng phục dựng quá khứ. Cứ thỏa thuận bồi thường với chủ đất sòng phẳng, chừng 15 tỉ/ha thôi – rồi xây sửa hoành tráng vô tư. Nhớ, bỏ tiền túi ra đấy nhé. Chính quyền này chả phá mà cũng hổng thèm sửa, đơn giản – mả ngụy đã rơi vào quên lãng từ lâu. Nó chả đáng cho ai phải nhớ – trừ lão chăn bò kiêm chủ vườn cao su 5 ha KHÔNG SỔ ĐỎ.

 

Nói là nói thế nhưng thực chất thì nghĩa trang quân đội này đã được đổi tên thành “Nghĩa trang nhân dân Bình An” từ lâu và được quản lý “bình thường như các nghĩa địa khác theo quy định của pháp luật” chứ không có chuyện “kỳ thị” từ Đảng và nhà nước.
Có thể nhiều người sẽ “sốc” trước cách gọi của cụ nông dân kia đối với mồ mả nơi đây nhưng đó là sự thật lịch sử, là cái nhìn đúng đắn của nhân dân đối với cái thực thể chính trị – quân sự một thời.

 

“Ngụy” là bản chất chứ không phải là “kỳ thị”

 

“Ngụy” (伪) là một tính từ Hán – Việt, có nghĩa là giả, là không chính thống, không hợp pháp và trái nghĩa với từ “Chân” (真) chứ không phải là một từ gì mới mà ĐCSVN và nhân dân “sáng tạo” ra để kỳ thị những người theo chính quyền Sài Gòn.

 

Phat-ngon-My-nguy
Bản chất của chế độ VNCH như đã phân tích ở trên và được tái khẳng định nhiều lần bởi chính các nguyên thủ, tướng lĩnh của chế độ này là “bù nhìn, là tay sai của Mỹ, là bất hợp pháp”. Do đó, không có từ nào chính xác, ngắn gọn hơn để gọi nó như “ngụy quyền, ngụy quân”. Xuất phát từ đó, những người lính của chế độ bù nhìn (Puppet State) này thường được nhân dân ta gọi tắt là “lính ngụy” (lính của chính quyền bất hợp pháp), mặc dù họ là “lính thật” chứ chẳng phải “lính giả”. Từ “lính ngụy” hay“ngụy binh” cũng được Bác Hồ và các lãnh đạo Đảng – Nhà nước sử dụng trong các trao đổi, văn kiện chính thức. Ví dụ như: Thư gửi các ngụy binh (Báo Cứu quốc, số 1915, ngày 28-9-1951), Ngụy binh giác ngộ (Báo Nhân dân số 47-48, ngày 03-03-1952),… Đó là cách gọi đúng đắn, rõ ràng, chỉ thẳng vào bản chất sự việc, rạch ròi đúng – sai, chính – tà.

 

THƯ GỬI CÁC NGỤY BINH
Tôi đã nhận được thư 300 nguỵ binh công giáo bị bắt trước mặt trận, xin tha.
Tôi cũng đã nhận được thư của những nhóm nguỵ binh khác, hứa hẹn.
Tôi trả lời như sau:
– Một mặt, vì các người chưa hiểu rằng: giặc Pháp đương mưu mô cướp nước ta, bù nhìn Bảo Đại đang mưu bán nước ta. Kháng chiến là cốt làm cho nước ta được độc lập thực sự, cho nhân dân được tự do, đồng thời cho đồng bào công giáo được tự do thờ Chúa.
– Một mặt khác, các người hoặc bị giặc Pháp và bù nhìn ép buộc, hoặc bị chúng lừa phỉnh mà đi lính cho chúng, chống lại Tổ quốc. Nhưng các người cũng là máu đỏ da vàng, khi đã hiểu thì chắc không ai nỡ lòng làm nanh vuốt cho giặc, chống lại Tổ quốc, để mang tiếng xấu muôn đời.
Tuy các người đã phạm tội nặng là cầm súng chống lại Tổ quốc, song Chính phủ kháng chiến độ lượng khoan hồng, thương hại các người như những đứa con lầm đường, cho nên nặng về giáo dục nhẹ tay xử phạt, để dìu dắt các người bỏ đường tà, theo đường chính.
Vì lẽ đó, đối với những nguỵ binh đã bị bắt và đã biết tội, thì Chính phủ sẽ dần dần tha thứ cho về với cha mẹ, vợ con.
Đối với những nhóm nguỵ binh có thư hứa hẹn, thì tôi có lời khuyên răn và dặn dò: anh em phải cẩn thận, sẽ có cán bộ kháng chiến liên lạc và hướng dẫn anh em.
Đối với tất cả nguỵ binh, thì Chính phủ sẽ khoan hồng những người sớm quay về với Tổ quốc, sẽ trọng thưởng những người và những nhóm đái tội lập công lớn.
Nguỵ binh cũng là con dân nước Việt, nhưng vì dại mà đi lầm đường, cho nên tôi và Chính phủ sẵn sàng tha thứ những người sớm biết lỗi và quay về với đại gia đình kháng chiến.
Hồ Chí Minh
(Báo Cứu quốc, số 1915, ngày 28-9-1951)

 
“Ngụy quân, ngụy quyền” đã bị xóa sổ từ ngày 30/04/1975 nên thực tế hiện nay chẳng còn ai là “lính ngụy” nữa cả, ngoài một nhúm người vẫn nhắm mắt nhắm mũi, tự kỷ ám thị làm lính cho cái “cố ngụy quyền” đó mà thôi. Nhưng cái danh xưng”ngụy quân, ngụy quyền” khi nói về chế độ VNCH sẽ luôn luôn tồn tại chừng nào thế gian này vẫn còn chỗ cho SỰ THẬT.

 
Bản chất cuộc chiến, bản chất chế độ VNCH, tuy hai mà là một. Không thể nói đây là“cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc” mà lại ngại ngần khi nhìn nhận VNCH là“ngụy quân, ngụy quyền”.
Hòa hợp dân tộc là phải làm cho người ta hiểu rõ sự thật đó để cùng đến với nhau một cách nhẹ nhàng, tự nhiên. Như cách mà trang báo mạng chống cộng nổi tiếng KBCHN.COM chuyển hóa thành KBCHN.NET đầy tinh thần đoàn kết, xây dựng. Như cách mà ông cựu “lão thành chống cộng” Nguyễn Phương Hùng, vốn dành gần cả cuộc đời để ca ngợi những chiến hữu ngụy binh, tĩnh tâm nhìn nhận sự thật về tội ác của “đồng đội”.

 
Hòa hợp dân tộc là làm cho những người Việt xa xứ thấu hiểu lịch sử, thấu hiểu lẽ phải để tìm về với cội nguồn dân tộc, tự nhiên như những dòng suối nhỏ tìm về sông lớn thay vì ngược đường để lay lắt kiếp ao tù nước đọng. Hòa hợp dân tộc tuyệt nhiên không phải là kêu gọi dòng sông lớn phải nắn dòng, chuyển hướng để tìm đến những lạch nước xa xôi như những kẻ “lạc loài” mong mỏi.

37 năm bị “bịt miệng” trên “xứ sở tự do” (kì 2)


(CATP) Trong nhiều năm liên tiếp, bà dân biểu Mỹ Loretta Sanchez và Tổ chức phóng viên không biên giới (Reporters Whithout Borders – RWB) cùng những thế lực cực đoan cứ hùng hổ ca mãi điệp khúc “Đấu tranh cho tự do báo chí ở Việt Nam”. Nhưng trớ trêu thay, ngay trên đất Mỹ, báo chí Việt ngữ – một bộ phận của báo chí Mỹ bị “bịt miệng”, khủng bố, đàn áp man rợ suốt 37 năm qua lại không thấy họ nhắc tới?! Sau hàng loạt nhà báo, chủ báo bị sát hại, thủ tiêu; đến nay nhiều nhà báo, cơ quan báo chí vẫn bị bọn “côn đồ chính trị” quậy phá triền miên, chửi bới hăm dọa, xúc phạm nhân phẩm…

>Kỳ 1: VÀI NÉT LỊCH SỬ BÁO VIỆT TRÊN ĐẤT MỸ

>Kỳ cuối: “CHIẾN ĐẤU” ĐỂ HƯỚNG VỀ QUÊ HƯƠNG

KỲ 2: TRANG SỬ ĐEN TỐI

Theo tài liệu “Lịch sử bạo động của giới chống cộng tại Mỹ” được công bố trên rất nhiều phương tiện truyền thông tại Mỹ (và hiện rất dễ tìm trên Google) cho biết: “Từ năm 1987 đến 1990, có năm nhà báo người Việt bị giết hại tại Mỹ bởi các đội sát thủ mà nhà cầm quyền Mỹ nghi ngờ có liên hệ với các sĩ quan trong quân đội Sài Gòn cũ ở miền Nam Việt Nam đang cư ngụ tại vùng Sài Gòn nhỏ thuộc quận Cam.

HÀNG LOẠT NHÀ BÁO BỊ “TUYÊN ÁN TỬ HÌNH”

Năm 1994, Ủy ban bảo vệ phóng viên (Committee to protect jounalists) có trụ sở đặt tại New York, đã đưa ra một báo cáo cụ thể: Tháng 1-1980, văn phòng báo Văn nghệ tiền phong ở Arlington bang Virginia bị ném bom xăng. Nhà báo Nguyễn Thanh Hoàng và con gái 7 tuổi may mắn thoát nạn. Ngày 21-7-1981, Lam Trang Dương, một nhà báo khuynh tả và nhà bình luận về cuộc chiến Việt Nam bị bắn chết trên đường phố San Francisco. Nhóm khủng bố có tên Vietnammese Organization to Exterminate Communists and Restore the Nation (VOECRN – Tổ chức chống cộng và phục quốc) tuyên bố họ là thủ phạm vụ ám sát. Ngày 5-1-1982, Bach Huy Bong, chủ nhiệm một tờ tuần báo nhỏ ở Los Angeles đã bị rượt bắn sau khi rời nhà hàng ở khu China town. Ông bị bắn vì từng cho in bài lên án một nhóm du đãng có tên “Fogmen” (Người nhái) hoạt động ở quận Cam và cho rằng nhóm này là cựu lính hải quân miền Nam Việt Nam. Ngày 24-8-1982, nhà báo Đạm Phong bị bắn chết tại nhà riêng ở Houston. Ông là chủ nhiệm tuần báo Tự Do, đã đăng nhiều bài viết vạch trần thủ đoạn của các nhóm chống cộng lưu vong. Sau khi giết ông Phong, Tổ chức khủng bố VOECRN để lại một danh sách nhà báo bị chúng “tuyên án tử hình”. Ngày 7-8-1987, nhà báo Thinh Nguyen, chủ bút tờ Dân Việt, được “tặng quà” là xác một con chó berger cùng lá thư tuyên bố ông sẽ bị ám sát. Ngày 7-8-1987, Tổ chức khủng bố VOECRN tuyên bố đã giết Tap Van Pham (chủ bút tuần báo Mai ở quận Cam), đốt cháy văn phòng tờ báo vì chúng cho rằng ông đã “cộng tác với cộng sản” (tức đăng quảng cáo chuyển tiền về cho thân nhân ở Việt Nam). Ngày 3-8-1988, Nguyễn Tú A – chủ nhiệm tờ Viet press tại Westminter và hai nhà báo khác bị bọn khủng bố, chống cộng “tuyên án tử hình” vì về thăm quê hương. Ngày 22-11-1989, nhà báo Đỗ Trọng Nhân của tờ Văn nghệ tiền phong bị bắn chết trong ôtô ở quận Fairtax – Virginia. Ngày 22-9-1990, nhà báo Lê Triết bị bắn chết ở ngoại ô Bailey Crossroads – Virginia. Tên ông nằm trong danh sách mà Tổ chức VOECRN để lại trên xác nhà báo Đạm Phong tám năm trước. Ngày 21-7-2007, hàng trăm kẻ cực đoan đã biểu tình chống tờ Việt Weekly ở Garden Grove. Chủ nhiệm Lê Vũ cùng các phóng viên, nhân viên bị sách nhiễu, đe dọa qua điện thoại và email nặc danh. Bọn phản động, khủng bố còn “hứa” sẽ thiêu cháy tòa soạn Việt Weekly…

Ở xứ sở tự do báo chí như Mỹ, việc nhà báo bị cản trở hoặc giết hại trong khi làm nhiệm vụ là điều gây phẫn nộ trong công chúng. Năm 2002, ký giả Daniel Pearl của tờ Wall Street Journal bị quân khủng bố bắt và sát hại ở Afghanistan, đã gây xúc động sâu sắc trong xã hội Mỹ. Tám năm sau đó (2-2010), tổng thống Obama ký đạo luật ủng hộ tự do báo chí toàn cầu. Đạo luật này được đặt tên nhà báo “liệt sĩ” Daniel Pearl. Thế nhưng cũng ngay trên nước Mỹ, cả chục đồng nghiệp gốc Việt của Daniel Pearl bị bọn khủng bố trong các tổ chức chống cộng cực đoan giết hại lần lượt, dã man và thách thức pháp luật Mỹ như thế, nhưng… chẳng một ai phải chịu trách nhiệm, chẳng một tên sát nhân nào bị trừng trị?! Đó là điều khó hiểu và nỗi buồn lớn mà cộng đồng 2 triệu người Việt và giới làm báo Việt trên đất Mỹ phải chịu đựng suốt 37 năm qua!

BIỂU TÌNH – VŨ KHÍ ĐÀN ÁP BÁO CHÍ

Không chỉ thủ tiêu, ám sát các nhà báo, đốt cháy các văn phòng báo chí; bọn phản động cực đoan người Việt ở Mỹ còn bày ra nhiều trò đàn áp báo chí, phổ biến nhất là… biểu tình với nhiều trò nhố nhăng, dị hợm. Cách đây vài năm, khi Lý Tống (kẻ đã giả phụ nữ để lén tiếp cận, xịt hơi cay ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng, khi Hưng sang Mỹ biểu diễn) thực hiện các “phi vụ điên khùng” – thuê máy bay rải truyền đơn chống phá Việt Nam và các nước xã hội chủ nghĩa, nhà báo Tú gàn (cựu thẩm phán chế độ cũ) đã viết trên tờ thời báo ở San Jose, gọi Lý Tống là “thảm họa hoang tưởng”. Lập tức đám cực đoan phản động đã kéo đến trước tòa soạn biểu tình… 86 lần, gọi Tú gàn là “đặc công cộng sản”… Năm 2006, tờ Việt Weekly cử phóng viên về Việt Nam viết bài về Hội nghị Apec, nhân đó làm bài phỏng vấn cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt. Sau khi các tin bài được đăng, những kẻ cực đoan đã mang cờ, loa, trống, biểu ngữ đến biểu tình trước tòa soạn Việt Weekly hơn… một năm trời! Đến ngày 16-6-2007, họ còn tổ chức “đấu tố” tờ báo này ở Westminister – Cali với hàng trăm người tham dự. Trên BBC tiếng Việt ra ngày 10-8-2007, luật sư gốc Việt Trịnh Hội bày tỏ: “Sau một tháng theo dõi sự việc, mỗi ngày tôi lại buồn sau đó là bực bội về bản chất và định kiến của một số người tự cho mình là đại diện cộng đồng, hô hào phải đánh cho tờ Việt Weekly đến chết…”. Tiếp đó là vụ báo Người Việt (một trong những tờ báo có “tuổi thọ” đứng đầu làng báo Việt ở Mỹ) đăng bức họa của nữ họa sĩ H.L.C về một cái chậu rửa chân được sơn hai màu đỏ, vàng. Đám phản động cực đoan lập tức gào thét, kích động cho rằng báo người Việt đã… “xúc phạm cờ vàng”. Từ năm 2008, hàng loạt các cuộc biểu tình đã nổ ra, cuộc nào cũng tràn ngập những lời chửi bới thiếu văn hóa với tờ báo đang gặp “khổ nạn” này. Buồn cười nhất là trong cuộc biểu tình ngày 18-4-2010 (vẫn còn clip trên mạng), một ông trong đám biểu tình đã nức nở, nghẹn ngào “tế”: “Kính thưa linh hồn của 58.000 ông lính Mỹ đã tử trận ở Việt Nam. Xin các ông mau mau hiển linh đem dùm tòa soạn báo Người Việt về nơi địa ngục”… Vui nhất là chuyện về “Vua biểu tình” Ngô Kỷ. Khi tờ Việt Herald đăng một bài viết chê bai cựu tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, Ngô Kỷ liền nổi giận đùng đùng. Ông ta hô hào nhiều người cùng đi biểu tình. Đi mãi, hô mãi, chửi mãi cũng chán; các “chiến hữu” của Ngô Kỷ lần lượt tan hàng. Ngô Kỷ bèn nghĩ ra kế sơn chiếc ôtô của mình theo màu cờ vàng rồi đem đậu ở góc đường Kramer – Moran – khu Bolsa – quận Cam, trước cửa tòa soạn báo Việt Herald. Theo luật ở đây, không được đậu xe một chỗ quá 72 giờ. Ngô Kỷ cứ canh sắp đến giờ hết hạn lại ra cho xe chạy nhích lên vài bước. “Nhà biểu tình lầy lội” này đã kiên trì thực hiện các trò dị hợm này suốt… 18 tháng. Ngày qua ngày, chiếc ôtô cờ vàng của Ngô Kỷ bị bụi bặm bám vào và vô số chim thi nhau bay đến “ị” lên nóc xe. Nhà báo Đông Duy liền đến quay cảnh này rồi hỏi Ngô Kỷ: “Có người nói ông làm vậy khác nào xúc phạm cờ vàng?”. Ngô Kỷ gân cổ cãi: “Tại mấy con chim không phân biệt chính tà. Tôi không thèm cãi với bọn Việt gian nhục mạ quốc gia”…


Một người cầm loa, khẩu hiệu chửi Trần Khải Thanh Thủy


Ngô Kỷ

Cay đắng nhất là trường hợp của “nhà văn” Trần Khải Thanh Thủy. Ngày 24-6-2011, Thủy được định cư ở Mỹ và tuyên bố rất hoành tráng: “Tôi đi tìm tự do cho ngòi bút của mình”. Ngày 17-7-2011, hai đối tượng chống cộng cực đoan là Hải Triều và Chu Tất Tiến tổ chức cho Thủy được xuất hiện trước một số báo đài Việt ở Mỹ. Mục đích là muốn lợi dụng giọng điệu đanh đá, xạo xược, du côn của Thủy để nói xấu quê hương, vu khống Việt Nam không có tự do báo chí. Cuộc họp báo vừa bắt đầu, nhà báo Đoàn Trọng của tờ Việt Herald hỏi Thủy: “Bà qua đây phục vụ cho ai?”. Thủy không dám trả lời, lấm lét đưa mắt xin ý kiến Hải Triều, Chu Tất Tiến. Hai ông này đang mặc đồ nhà binh (lính Sài Gòn cũ) sừng sộ quát tháo trấn áp: “Nhà báo không được hỏi như vậy, câu này không trả lời!”. Trần Khải Thanh Thủy thấy vậy sợ xanh mặt, ngồi im re, không dám đòi “tự do ngôn luận” nữa… Bên ngoài phòng họp đang diễn ra một cuộc biểu tình. Có vài người cầm cờ vàng, cầm loa, khẩu hiệu chửi bới “nhà dân chủ” Trần Khải Thanh Thủy thậm tệ, gọi Thủy là loại vô giáo dục, bịp bợm, vô liêm sỉ… quang cảnh thật bát nháo, lộn sòng. Một người đứng bên ngoài mỉa mai “ở đây có nhiều bông hoa của xã hội dân chủ, nhưng toàn những bông… thúi”! Thấy mình vừa sang Mỹ đã được “đón tiếp” như vậy, Trần Khải Thanh Thủy với khuôn mặt thẫn thờ, mệt mỏi, ánh mắt đờ dại đã cố cười chua xót, gượng gạo khi có ai đó thương hại, an ủi: “Ở Mỹ là vậy, đừng buồn…”.

Từ trái qua: Chu Tất Tiến, Hải Triều, Trần Khải Thanh Thủy

37 năm bị “bịt miệng” trên “xứ sở tự do” (kì 1)


(CATP) Nhà báo, chủ báo bị chụp mũ, vu khống, sỉ nhục, bị đánh đập dã man hoặc thủ tiêu, ám sát. Tòa soạn báo bị côn đồ khủng bố, đốt cháy, bao vây gây náo loạn cả năm trời. Nhiều người bị ngăn cấm đọc báo, nghe đài… Đây là thực trạng nhức nhối, kéo dài suốt 37 năm qua, là “khổ nạn” của báo chí Việt trên đất Mỹ. Phan Nhật Nam – một cây bút chống cộng khét tiếng từ trước và sau năm 1975, phải cay đắng thốt lên: “Những người làm văn, làm báo ở đây (Mỹ) đang phải chịu đựng một áp lực tồi tệ”… (Phan Nhật Nam trả lời Lệ Hằng – đã đăng trên nhiều trang web). Nhà văn Nhật Tiến thì than thở: “Không có đủ tự do cho những người cầm bút ở hải ngoại…” (trích từ “Sống và viết trên đất Mỹ” – Thế Uyên tháng 4-1998, đã đăng trên “Tiền vệ”). Tại sao trên xứ sở tự do như Hoa Kỳ lại có chuyện đàn áp báo chí khốc liệt như vậy?

>Kỳ 2: TRANG SỬ ĐEN TỐI

>Kỳ cuối: “CHIẾN ĐẤU” ĐỂ HƯỚNG VỀ QUÊ HƯƠNG

Kỳ 1: VÀI NÉT LỊCH SỬ BÁO VIỆT TRÊN ĐẤT MỸ

Ngày 30-4-1975, kết thúc sự tồn tại của chính thể Việt Nam cộng hòa (VNCH). Hai ngày sau, tại đảo Guam, tờ báo đầu tiên của người Việt tại Mỹ ra đời với tên gọi Chân trời mới. Tại thời điểm đó, trên đảo Guam có hơn 100 ngàn người Việt (gồm binh lính, sĩ quan, công chức chế độ VNCH vừa sụp đổ) được máy bay, tàu chiến bốc ra đang chờ sang Mỹ định cư.

Ồ ẠT RA ĐỜI RỒI… CHẾT YỂU!

Tờ Chân trời mới mỗi tuần ra năm số, mỗi số phát hành từ 5 – 10 ngàn bản. Đến cuối tháng 10-1975, tờ báo này cũng đóng cửa theo trại tạm cư Guam (theo BBC ra ngày 18-4-2005).

Tiếp đó, trong cộng đồng người Việt di tản trên đất Mỹ ra đời thêm một số tờ báo như: Đất mới (7-1975), Đất lành (8-1975), Văn nghệ tiền phong (11-1975), Tin yêu (2-1976), Việt báo (7-1976)… Tổng cộng trong hai năm 1975 – 1976 có tới 45 tờ báo Việt ra đời.

Những năm sau đó, cùng với làn sóng người Việt ồ ạt nhập cư vào Mỹ, báo chí (bao gồm báo in, truyền hình, truyền thanh và Internet) tiếng Việt càng nảy nở nhộn nhịp. Đến nay – 37 năm hình thành cộng đồng Việt tại Mỹ, đã có hàng trăm cơ sở báo chí ra đời hoặc… biến mất. Nhiều tờ báo khai trương ồn ào, phát hành được… một số rồi “tắt”. Như tờ Tin Văn của Hoàng Dược Sư ra một số duy nhất vào tháng  9-1975 với 15.000 bản in, sau đó… hết vốn, đóng cửa. Tờ Quê Hương của Du Tử Lê cũng đoản mệnh sau khi số thứ hai được phát hành. Có tờ như KBC Hải ngoại chết đi sống lại không biết bao nhiêu lần và mỗi lần “tái sinh” lại có một chủ mới…

Sở dĩ có tình trạng lạ lùng kể trên là vì ở Mỹ muốn ra một tờ báo rất dễ, dễ đến mức ai cũng có thể là chủ báo, nhà báo. Có người ví von: “Làm báo ở Mỹ dễ hơn lái xe. Bởi lái xe còn đòi hỏi bằng cấp, làm báo chẳng cần bằng cấp…”. Cũng có những người Việt tốt nghiệp các khoa, trường đào tạo báo chí của Mỹ nhưng hầu hết không tham gia làm báo Việt bởi thu nhập thấp và tương lai bấp bênh. Họ làm việc cho các cơ quan truyền thông của Mỹ. Có những tờ báo chỉ một người làm, “công nghệ” chính là cắt, dán. Cứ lấy tin báo khác đưa sang báo của mình, chẳng cần tính đến bản quyền. Báo loại này chỉ sống nhờ quảng cáo. Báo in xong, đem đi cho là chính. Trên trang web BBC tiếng Việt ngày 22-7-2007 đăng ý kiến của một độc giả người Việt ở Mỹ: “Ở Cali quơ tay là có hàng chục tờ báo (tiếng Việt) rơi rớt trong các tiệm phở, ngõ ngách các khu chợ, siêu thị. Chục tờ như một toàn nhai đi nhai lại, copy trên mạng, kể cả các “tin Việt Nam” đều từ các báo điện tử Việt Nam mà ra… Đa số “báo chợ” không có một phóng viên, chỉ có vài người lên mạng “sao y bản chính”. Nhà báo kỳ cựu Sơn Điền – Nguyễn Viết Khánh từng viết về một kỷ niệm buồn với báo Việt ở Mỹ: “Tình cờ ra chợ, thấy chồng báo để dưới đất cho thiên hạ lượm. Những tờ báo trang trọng đẹp đẽ, trong đó có biết bao tâm tư trí não đã gửi gắm thành văn bị chà đạp bởi bước chân vô tình của khách qua đường…”. Nhà báo Nguyễn Ngọc Bích (Giám đốc chương trình Việt ngữ đài CATD) trong bài “Người Việt hải ngoại và công tác truyền thông hải ngoại”, cho biết: “Báo Việt ngữ ở hải ngoại phần lớn (95 – 98%) là báo của một gia đình. Vợ chồng với đôi ba người thân phụ giúp… Các tin có thể viết dông dài, văn bất thành cú mà vẫn được đăng vì tờ báo có nhiều chỗ trống cần trám hoặc vì là chỗ quen biết… Đây là cách làm báo tiểu công nghệ”…

Ra một tờ báo quá dễ như vậy nên báo Việt ở Mỹ nhiều đến mức không đếm xuể. Cây bút chống cộng Phan Nhật Nam trong lần trả lời phỏng vấn Lệ Hằng, đã mỉa mai: “Chỉ riêng vùng Orange County (Nam California – USA) đã có hơn 200 hội đoàn, số lượng báo cũng xấp xỉ như nhu cầu hội đoàn này…”. Trong bài nói chuyện tại trụ sở cộng đồng Dallas ngày 12-11-2005, nhà báo Phan Thanh Tâm cho biết: “Có người ví trên trời có bao nhiêu ngôi sao thì quận Cam (nơi có đông người Việt định cư) có bấy nhiêu tờ báo. Tờ này chết, tờ khác phanh ngực tiến lên…”. Trong bài “Người Việt hải ngoại và công tác truyền thông đại chúng”, nhà báo Nguyễn Ngọc Bích có cùng quan điểm: “Riêng vùng tôi ở, Washington D.C và ngoại ô Virginia và Maryland, có chừng 60 ngàn người Việt Nam, mà có đến hơn mười tờ tuần báo (Việt ngữ) ra hàng chục năm nay. Nếu mỗi tờ in 3.000 bản mỗi tuần, thì ta cũng có con số 30 nghìn bản các loại một tuần. Có nghĩa là cứ hai người Việt từ tuổi sơ sinh đến lúc bạc đầu thì đã có một tờ báo Việt ngữ để đọc một tuần… Rất nhiều người thuộc lòng những giờ báo được phát đến các cơ sở thương mại, để nhanh chân đến đó lấy trước khi người ta lấy hết…”.

Trang web Bulletin ngày 13-6-2005, đăng phát biểu của tác giả Phạm Nam Vinh: “Ở thủ đô tị nạn này (quận Cam – California) chẳng mấy ai quan tâm đến sự báo này vừa ra, báo nọ âm thầm lặng lẽ đóng cửa. Có khi cầm một tờ báo trên tay mà chẳng biết nó ra hàng tuần hay nửa tháng, hay một tháng, ba tháng. Có tờ tìm đỏ con mắt không biết chủ nhiệm, chủ bút, ban biên tập là những ai. Ngay đến địa chỉ báo quán ở đâu cũng chẳng thấy nữa…”. Mỹ là xứ sở phát triển khoa học kỹ thuật bậc nhất thế giới. Nhưng hơn mười năm sau khi ra đời, báo Việt ngữ ở Mỹ sau khi in xong phải bỏ dấu bằng tay, trông lem luốc. Đến đầu những năm 90 thế kỷ 20, kỹ sư Hồ Thành Việt của Công ty VNI cho ra đời phần mềm tiếng Việt, nhờ đó báo Việt ở hải ngoại mới thoát được nạn “bỏ dấu bằng tay”!
“THÀ Ở TÙ CHỨ KHÔNG… ĐI LÀM BÁO!”
Tình hình báo chí đã buồn, nghề báo trong cộng đồng Việt ở Mỹ cũng hiu hắt không kém. Theo tìm hiểu của các tác giả loạt bài này, nhuận bút trung bình của một bài báo trên báo chí Việt ngữ  hiện cỡ 25USD (thấp hơn nhiều so với nhuận bút các báo trong nước đang trả). Dù ít ỏi, nhưng không phải báo nào cũng trả nổi. Chuyện chủ báo quỵt nhuận bút của nhà báo không hiếm xảy ra. Trên tờ Việt Fun ra gần đây, trong bài “Vui buồn đời viết báo hải ngoại”, tác giả Hà Đình Trung viết: “Phần lớn báo Việt ngữ ở hải ngoại đều phải dựa vào quảng cáo để sống. Trong vùng Bắc Cali (USA) có mấy chục tờ báo, đa phần đời sống của chủ báo cũng bấp bênh nói gì đến những tay ký giả làm công cho chủ báo. Người ký giả chuyên nghiệp sống nhờ vào nhuận bút, nhưng thành thật mà nói, từ trước đến nay có bao nhiêu ông chủ báo làm tròn nghĩa vụ cao cả này. Chi phí công tác không được chủ báo trả, đã vậy có người ba năm không được trả lương, nhuận bút. Nhưng nhục nhất là đi xin quảng cáo… bởi vậy có người vừa dí dỏm vừa cường điệu nói với nhà báo Thanh Thương Hoàng rằng – Nếu phải chọn giữa ở tù và làm báo, tôi thà đi tù…”. Trong giới ký giả Việt ở Mỹ, thường có câu đùa chua xót: “Ghét đứa nào cứ cho nó đi làm báo”…

Một “đặc tính” nữa của báo Việt ở Mỹ là “chửi”. Thời kỳ đầu là chửi bới quê hương, sau đó là chửi lẫn nhau giữa các báo với các báo, đài với đài, hội đoàn với hội đoàn và các cá nhân với cá nhân. Chửi xong lại kiện nhau ra tòa. Nhà báo Phan Thanh Tâm trong bài “Báo chí hải ngoại” (đã trích dẫn ở trên), viết: “Tuy sinh hoạt đã 30 năm, có lập hội ký giả, báo Việt ngữ vẫn chưa bao giờ có một làng báo… Đây là một tập thể phức tạp nhất. Không có làng nên không có lệ, không có quy ước. Nhiều vụ kiện tụng vì phỉ báng, chụp mũ đã xảy ra… Ngày 9-9-1993, hơn 100 nhà văn, nhà báo đã gửi một thư ngỏ đến quý vị chủ nhiệm báo, giám đốc truyền thanh, truyền hình yêu cầu các cơ quan truyền thông khi chỉ trích ai nên tôn trọng quyền trả lời của người bị chỉ trích…”.

Trên trang web Dân kêu ra ngày 29-1-2012, trong bài “Tú gàn – ông là ai?”, tác giả Nguyễn Văn Lục kết luận: “Truyền thông báo chí hải ngoại được tự do viết. Nhưng học đòi dân chủ, tự do không xong. Tự do biến thành tự do chửi, chửi vung vít, chửi bất cứ ai mình muốn chửi. Báo chí tự biến thành “báo bẩn” vì “chửi”… Cũng vì “đặc tính chửi” quá phổ biến trên báo Việt ở Mỹ nên ông Nguyễn Cao Kỳ – nguyên phó tổng thống VNCH lúc còn sống, phải than rằng: “Báo chí trong nước ngày càng hay, trong khi báo chí hải ngoại ngày càng tồi tệ” (trích từ sách “Tường trình cùng đồng bào trong nước” – xuất bản tại Mỹ 1998, trang 54).
Tuy gặp nhiều khó khăn như vậy, nhưng báo Việt ở Mỹ sẽ “dễ thở” hơn rất nhiều nếu như không có kềm kẹp, đàn áp man rợ của các tổ chức phản động lưu vong. Bọn khủng bố báo chí này thường xưng danh “Tập thể quân lực VNCH”, “Chánh nghĩa quốc gia”, “Kháng chiến phục quốc”, “Bảo vệ cờ vàng”… để bóp nghẹt tự do báo chí. Thế Uyên – một cây bút chống cộng thâm độc từ thập niên 60, 70 ở Sài Gòn, nay sang Mỹ tiếp tục đời viết văn, làm báo. Dù đã có “số má” như vậy, nhưng Thế Uyên vẫn không thoát khỏi “vòng kim cô” của lực lượng áp bức báo chí. Trong bài “Sống và viết trên đất Mỹ”, đăng trên tờ Tiền vệ tháng 4-1998, Thế Uyên cay đắng, uất hận kể: “Những môn đệ còn theo trường phái chống cộng cổ điển ở Mỹ ép buộc cộng đồng hải ngoại phải chấp nhận những tiền đề chính trị xã hội chẳng liên quan gì đến thực tại Việt Nam. Ai mà không chịu phát ngôn theo các tiền đề đó thì trước sau cũng bị chụp mũ, đả kích thậm tệ, biểu tình và tẩy chay. Và nếu là người cầm bút thì còn bị đánh trọng thương, bị đốt chết, bắn chết…”.

Có phải nơi đó là “THIÊN ĐƯỜNG MÙ CỘNG SẢN”


Dưới đây là nguyên văn bài khấn của nhà báo Nguyễn Phương Hùng trong ngày giỗ bố mẹ (24/9/2011), khi ông về Long Khánh, Đồng Nai để thắp nhang trên bàn thờ và thăm mộ song thân sau 36 năm xa tổ quốc.Kính thưa cậu mợ, con bất hiếu Nguyễn Phương Hùng trở về nước sau hơn 36 năm tha hương biệt xứ. Ngày cậu mất thì chưa có quan hệ ngoại giao và chưa có phương tiện đi về. Ngày mợ mấ

t thì than ôi “vì cái cộng đồng bát nháo ở hải ngoại” con đã tâm nguyện không trở về không trở về khi đất nước còn Cộng sản. Thưa cậu mợ, nếu không có một cơ duyên đầy ngẫu nhiên có lẽ con sẽ suốt đời bị mù mắt vì “thiên đường cộng đồng hải ngoại”.Những gì con được “học hỏi” tại hải ngoại chỉ là những viên thuốc chống cộng “bọc đường” của một thiểu số người muốn khuynh loát đời sống bà con hải ngoại cho một chủ nghĩa quốc gia. Nhưng hôm nay dù sao con cũng đã mãn nguyện được sáng mắt và được nhìn 2 ngôi mộ thân yêu của cậu mợ bên cạnh nhau. Cám ơn các em con đã thay anh để chu toàn chữ hiếu. Con xin cậu mợ có linh thiêng phù hộ cho con sáng suốt và can đảm để vượt qua khoảng thời gian còn lại.Người ta nói với con “thiên đường mù Cộng Sản” nhưng thực tế con đã bị mù trong 36 năm tại “thiên đường dân chủ Bolsa”.

Đất nước sau ngày 30/4/1975 có thể tệ vì hậu quả chiến tranh, nhưng 5, 10 năm sau đó chắc không tệ và ngày nay bằng chứng con đã thấy rất nhiều thay đổi. Con chỉ vì 2 chữ quốc gia cực đoan mà không nghe lời khuyên của những thằng bạn con từng về Việt Nam nhiều lần. Nếu như trong cõi vô hình cậu mợ có biết được ngày hôm nay con đã trở về, chắc cậu mợ cũng hài lòng và tha thứ tội bất hiếu. Con kính cẩn vái lạy vong linh cậu mợ”.

Trên đây là nguyên văn bài khấn của nhà báo Nguyễn Phương Hùng trong ngày giỗ bố mẹ (24/9/2011), khi ông về Long Khánh, Đồng Nai để thắp nhang trên bàn thờ và thăm mộ song thân sau 36 năm xa tổ quốc.

57 năm trước, cậu bé 8 tuổi Nguyễn Phương Hùng theo gia đình rời Hà Nội di cư vào Sài Gòn. Rồi năm 1975, một lần nữa ông di cư qua Mỹ, làm nghề báo ở phố Bolsa (Little Sài Gòn), thuộc quận Cam, California, nơi được mệnh danh là “trung tâm chính trị của người Việt tị nạn”. Để rồi ở đó, như ông nói “tôi lao mình vào những tổ chức đấu tranh, tung tiền qua cửa sổ, chống những người Cộng sản một cách cực đoan”.

Sự cực đoan có thể thấy qua một hành động rất nhỏ, theo lời ông là dù trong thâm tâm rất thích nhạc Trịnh Công Sơn, nhưng bề ngoài “Tôi tỏ ra dị ứng với nhạc Trịnh, luôn chống đối các ca sĩ từ trong nước sang Mỹ biểu diễn”….

Đỉnh điểm của sự cực đoan ấy là ông từng “thề” sẽ không về lại Tổ quốc khi còn những người Việt cộng, dù đó là nơi chôn rau cắt rốn và ấp ủ cả cốt nhục của song thân….

Phải đến 36 năm sau, nhờ cơ duyên mà ông mới có dịp “sáng mắt”, khi được mời và quyết định về Việt Nam dự hội thảo “Bảo tồn bản sắc văn hóa Việt Nam và giữ gìn tiếng Việt” do Ủy ban Nhà nước về người Việt ở Việt Nam ở nước ngoài – Bộ Ngoại giao tổ chức (trung tuần tháng 9/2011, Hà Nội).

Chuyến đi chỉ hơn 1 tuần, nhưng ông kể đã 7 lần rơi nước mắt trên đất trời quê hương. “Khi nữ tiếp viên hàng không VN loan báo máy bay đang đi vào không phận Việt Nam, tự nhiên lòng nao nao và xao xuyến, tôi cố gắng nén sự xúc động bằng cách cứ định thần nhìn lên trần khoang phi cơ. Nhưng nước mắt lại chảy dài từ khi nào….”.

Đó là lần khóc đầu tiên. Để rồi sau đó, khi lấy hành lý và chuẩn bị lên xe từ sân bay Nội Bài và Hà Nội, ký ức tuổi thơ ùa về với căn nhà đầu đường Trịnh Hoài Đức, phố Hàng Đẫy, những lần theo cậu út nhảy xe điện lên ô Cầu Giấy, cắp sách đến Trường Lý Thường Kiệt, ăn cháo lòng buổi sáng mùa đông, rồi chùa Một Cột, sân banh Septo… lần lượt hiện ra, khiến ông “nước mắt cự tự nhiên trào ra”.

Những lần khác ông khóc là khi vào chùa cổ Tây Phương “thắp nhang vái Phật, dù rằng tôi là một người Công giáo”; khi trên tàu thăm vịnh Hạ Long, bỗng thấy “Quê hương là một thứ tình cảm không hương vị, không thấy, không nghe nhưng như là một lời mời gọi quá thiết tha”; khi đặt chân đến phi trường Tân Sơn Nhất, “Nơi mà 36 năm trước tôi đã giã từ để “Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi”. Tôi khóc vì “Tân Sơn Nhất giờ quá khác xưa, đã rộng lớn, sang trọng và đẹp hơn so với một số phi trường ngoại quốc khác như Edmonton, Vancouver, Alberta… mà tôi có dịp đi qua”; khi trở về Long Khánh thăm mộ bố mẹ và “có lẽ đây là trận khóc dài nhất của đứa con bất hiếu”. Và ông cũng khóc khi nghĩ đến buổi chia tay về lại Mỹ….

Nhiều người nói, kẻ xa quê lâu ngày quay về, có khóc cũng là thường tình. Cũng có người khi hay chuyện ông khóc, bảo rằng “đó là nước mắt giảo hoạt”. Còn tôi, tôi tin nước mắt của một người trước ngưỡng “thất thập cổ lai hy” như ông chứa đựng cả nỗi nhớ quê hương, sự thức dậy của tâm thức con dân Việt và cả nỗi ân hận về “lý tưởng hão huyền” suốt mấy chục năm qua nay tỉnh ngộ khi đối diện thực tế….(còn nữa)

nguồn: KBCHN
<admin VL>